Trang chủ > Phần cứng - Thiết bị số > Chipset và những công nghệ hiện hành

Chipset và những công nghệ hiện hành


Intel Chipset G33

Khi chọn mua một chiếc mainboard, điều bạn bối rối nhất có lẽ là chipset. Trên thị trường có khá nhiều loại chipset như Intel, VIA, SiS… Không giống như CPU, khái niệm chipset không phải ai cũng  hiểu được. Và nhất là trong thời đại đua tranh công nghệ như hiện nay, điều này càng làm bạn trở nên khó lựa chọn hơn cho nhu cầu của mình.

Mối quan tâm đầu tiên và cũng là quan trọng nhất khi chọn mua bo mạch chủ (BMC) là công nghệ chipset. Nếu coi CPU như một trái tim thì chipset tương tự như bộ não vậy- nó quản lí mọi hoạt động của BMC, từ hoạt động của CPU, bộ nhớ, đồ họa đến các thiết bị ngoại vi như bàn phím, chuột, usb… Cái mà chúng ta cần phải phân biệt ở đây là sức mạnh của công nghệ chipset.

Hoạt động của chipset nói một cách đơn giản giống như hệ thống giao thông ở ngã tư đường phố vậy. Nếu điều khiển tốt thì mọi thứ hoạt động đều đặn, hiệu quả, còn nếu không tốt, sẽ dẫn đến tình trạng “kẹt xe”, làm chậm và đôi khi còn treo cả máy tính. Thông thường, cấu trúc chipset (Intel) thường gồm 2 phần: Chipset cầu Bắc (North Bridge Chipset) và chipset cầu Nam (South Bridge Chipset). Chúng liên hệ với nhau nhưng thực hiện những nhiệm vụ khác nhau. Nói chung, nhiệm vụ của mỗi cầu là cố định và ít khi có thay đổi lớn.

Chipset cầu bắc quản lí việc giao tiếp dữ liệu với CPU, card đồ họa và RAM. Bởi vậy, nó rất quan trọng. BMC có xử lí tốt hay không là do nó.

Chipset cầu nam quản lí giao tiếp với các thiết bị ngoại vi (chuột, bàn phím, usb, hdd, odd…). Thông tin từ chip cầu nam sẽ được đưa lên chip cầu bắc để xử lí và sau đó thì được trả về kết quả. Đôi khi cũng có một số thay đổi nhỏ. Ví dụ như với dòng chipset 875P, Intel lại đưa giao tiếp mạng gigabit lên chip cầu bắc để tránh hiện tượng nghẽn đường truyền giữa 2 cầu.

Sơ đồ hoạt động của chipset Intel 965

Sơ đồ hoạt động của chipset Intel 965

Một trường hợp khác là chipset nForce 3 150 của VIA, nó gộp 2 cầu làm một nên giảm thời gian xử lí thông tin đáng kể. Trên thị trường hiện giờ có khá nhiều loại chipset. Riêng về Intel có: 945, 965, 975, P45, G45, X48, X58… Còn VIA thì có nForce 790i, 780i… Rất khó để có thể kể hết ra ở đây mà so sánh, chúng ta chỉ có thể xét ở đây những công nghệ mới nhất mà thôi.

Chipset cho bộ xử lí Intel

Điển hình trong năm 2008 vừa rồi là dòng chipset P45/G45, nForce 780i/790i của VIA.

1. Intel P45/G45

Sơ đồ chipset Intel G45

Sơ đồ chipset Intel G45

Mặc dù đã được tung ra từ năm ngoái, nhưng cũng chỉ có P45 và đàn em P43 là phổ biến trên thị trường. Trong khi P43 chỉ có thể hỗ trợ DDR3 – 1066 MHz, non – multi card, thì đàn anh có phần nổi trội hơn khá nhiều với DDR3 – 1333MHz, hỗ trợ đa card (1 khe PCIE 16X và 2 khe PCI 8x cho công nghệ Crossfire X của AMD). Điểm khác biệt lớn nhất giữa G45 và P45 là khả năng đồ họa tích hợp. Được trang bị GMA X4500HD, rõ ràng dòng G hướng nhiều hơn vào khả năng đồ họa (dựng phim chất lượng cao). Nó cũng được hỗ trợ DirectX 10, tuy nhiên phiên bản BMC sử dụng G45 khá ít ỏi và đắt đỏ.

2. Chipset NVIDIA

Chipset NVIDIA nForce 790i Ultra SLI

Chipset NVIDIA nForce 790i Ultra SLI

Điển hình là nForce 790i/780i SLI, với FBS mặc định là 1600MHz, đây là câu trả lời cho X48 Express của Intel. Được sản xuất trên công nghệ 90nm, tuy có phần hơi cũ kĩ so với công nghệ 45nm của Intel hiện giờ, nhưng 790i không hề kém cạnh tí nào! Nâng cấp từ kết nối LinkBoost PCI – E 1.1 của 780i lên PCI – E 2.0 với 32 kênh riêng biệt làm cho băng thông tăng lên tối đa. Hơn thế nữa, thiết kế PCI – Express mới giúp cho NVIDIA tối ưu hóa SLI dựa trên những chíp cầu nối nForce 200. Dễ thấy nhất là lối tắt cho 2 card đồ họa, giúp cho bộ điều khiển PCI – Express chuyển tín hiệu trực tiếp từ 2 card này mà không cần phải đi qua bộ nhớ chính. Thêm vào đó, nó còn hỗ trợ nhận 1 lệnh đơn từ CPU rồi truyền tới 2 card, tránh tình trạng CPU phải ra lệnh cho từng card và giải phóng băng thông cho bus mặt trước (FBS). Điều này cũng có nghĩa là người dùng phải cắm nhiều card nối với chip cầu bắc. NVIDIA còn cho phép người dùng gắn tới 3 card, cái thứ 3 này phải gắn với chip cầu nam, và chấp nhận một tốc độ kém hơn cùng với việc hỗ trợ công nghệ ít hơn. Tuy nhiên, cũng ít ai muốn lựa chọn điều này vì xu thế sử dụng 1 card gắn với 2GPU/khe PCI – Express để tạo ra nền tảng SLI 4 kênh đang phát triển khá mạnh.

Ấn tượng nhất phải kể đến việc hỗ trợ bus hệ thống mặc định là 1600MHz của 790i SLI, hướng đến các dòng vi xử lí cao cấp Penryn của Intel như Cor2 2 Extreme QX9770. NVIDIA cũng chia dòng 790i SLI ra 2 loại: tiêu chuẩn và Ultra. Khác biệt lớn nhất giữa 2 loại này đó là DDR 3 – 2000MHz của bản Ultra so với 1333MHz của bản tiêu chuẩn. Rõ ràng, bản Ultra hứa hẹn một khả năng ép xung tốt hơn và tốc độ nhanh hơn. Tuy nhiên, nó  cũng có một số giới hạn: để sử dụng những RAM có bus cao hơn 1.800MHz thì chỉ được cắm 1 thanh RAM mỗi kênh và phải cắm vào khe số 2 hay số 4 với hiệu điện thế 1.9v (so với 1.5v tiêu chuẩn của DDR3). Mặc dù vậy, SLI 790i cũng đã là một sự lựa chọn cao cấp rồi.

Dưới đây là bảng thông số kĩ thuật của những loại chipset vừa kể trên:

Thông số chipset của một số dòng chipset mới

Thông số chipset của một số dòng chipset mới

(Còn nữa…)

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: